UCF trị Thấp khớp

UCF điều trị Viêm khớp dạng thấp (RA)

Viêm khớp dạng thấp là một trong những loại bệnh viêm khớp phổ biến nhất trên thế giới. Bệnh được biết đến rất sớm trong cộng đồng dân Mỹ bản địa từ vài nghìn năm trước. Nhưng có thể chỉ xuất hiện ở Châu Âu vào thế kỷ 17. Viêm khớp dạng thấp (RA) là bệnh tự miễn mạn tính đặc trưng bởi sự tích tụ của các tế bào viêm vào màng hoạt dịch (niêm mạc khớp) và sự phá hủy các khớp.

Biểu hiện lâm sàng  

Viêm đa khớp đối xứng là biểu hiện lâm sàng ban đầu của bệnh. Bệnh thường bắt đầu xuất hiện ở những khớp nhỏ trên tay và chân, rồi lan dần ra các khớp lớn hơn. Viêm niêm mạc khớp sẽ lan ra và gây ra xói mòn bắt đầu ở sụn, rồi chuyển sang xương. Dẫn tới sự phá hủy các khớp, biến dạng và sau cùng là khuyết tật. Nếu sự xói mòn xảy ra ở bệnh thấp khớp (đối với phần lớn các ca bệnh), quá trình này sẽ diễn ra trong 1-> 2 năm đầu tiên, và có thể sớm hơn nữa. Ở ngoài khớp, các biểu hiện khác có thể là các nốt sần, viêm màng ngoài tim, xơ phổi, bệnh lý thần kinh ngoại biên và bệnh thoái hóa tinh bột (amyloidosis).

Điều trị

Không có thuốc điều trị khỏi hẳn bệnh Viêm khớp dạng thấp. Thuốc điều trị thường nằm trong 5 chủng loại dưới đây:

    1. Thuốc kháng viêm không steroid – trong đó rẻ nhất là aspirin – giảm đau và co cứng.
    2. Loại thứ 2 là methotrexate (chống ưng thư và ức chế miễn dịch) và sulphasalazine (giảm đau, chống viêm) – làm chậm tiến triển bệnh, giảm phản ứng giai đoạn cấp tính, có các tác dụng phụ cao, cần theo dõi cẩn thận.
    3. Steroids – có hiệu quả đối với các triệu chứng, không cần giám sát theo dõi, nhưng có hệ quả về lâu dài.
    4. Các loại thuốc ức chế miễn dịch – cần sử dụng 1 lượng nhỏ cho bệnh nhân với bệnh hệ thống.
    5. Các nhân tố sinh học mới – trực tiếp chống lại các cytokine gây viêm, nơi các loại điều trị viêm khớp dạng thấp hiện chưa có.

  1.  

  1.  

  1.  

  1.  

Ngoài trị liệu bằng thuốc, phẫu thuật chỉnh hình có thể giúp giảm thiểu hậu quả 20 đến 30 năm của bệnh trên những bệnh nhận bị khuyết tật nặng. Vật lý trị liệu và thích nghi có thể giúp thuyên giảm tình trạng khuyết tật. Theo ước tính, áp dụng tối ưu phương pháp quản lý bệnh hiện, áp lực khuyết tật do thấp khớp sẽ giảm hơn 25% nữa ở các nước phát triển. Một số bằng chứng gần đây cho thấy methotrexate có thể giảm tỷ lệ tử vong ở người bệnh.

Tại các quốc gia thu nhập thấp thường xuyên thiếu thốn cơ sở vật chất, bác sĩ chỉnh hình đã điều chỉnh liều theo dõi điều trị bằng methotrexate. Hơn nữa, liệu pháp steroid thường xuyên được sử dụng tự do, bừa bãi. Do vậy, ước tính áp lực khuyết tật do viêm khớp dạng thấp gây ra có thể giảm 40% nếu tăng đầu tư y tế.

Do những người mắc bệnh thấp khớp không thể tham gia bất cứ loại lao động nào mà không đau đớn. Chi phí công dành cho dưỡng bệnh về lâu dài rất lớn. Trong khi đó trị liệu y tế hiện có (không steroid, corticoid và ức chế miễn dịch) không chắc chắn về hiệu quả và mức độ an toàn về lâu dài.

Liệu pháp tế bào và Cytokine

    1. Liệu pháp tế bào 

Một số thử nghiệm sử dụng tế bào gốc trung mô (MSC) có nguồn gốc từ máu cuống rốn trẻ sơ sinh đã được thử nghiệm trong vivo và vitro ghi nhận hiệu quả lâu dài. Tế bào gốc trung mô cuống rốn trẻ sơ sinh đã được đề xuất như là liệu pháp thay thế đầy hứa hẹn để điều trị RA vì đặc tính điều hòa miễn dịch của chúng.

MSCs là các tế bào đa năng tồn tại trong nhiều mô của thai nhi, có thể sao chép thành những tế bào không biệt hóa, có khả năng biệt hóa thành các dòng mô trung mô. Tế bào gốc trung mô cuống rốn trẻ sơ sinh cũng có thể điều hòa một số chứng năng miễn dịch thông qua tương tác với các tế bào từ cả 2 hệ thống: miễn dịch bẩm sinh và thích nghi.

Hơn thế nữa, trong khi theo dõi trị liệu vivo, chúng tôi quan sát thấy tế bào gốc trung mô cuống rốn trẻ sơ sinh có thể di chuyển  tới các mô bị thương và kiềm chế sự giải phóng các cytokine gây viêm, tạo điều kiện để các tế bào đã hỏng có thể sống sót và thúc đẩy sự dung nạp miễn dịch ngoại biên.

Các nghiên cứu lâm sàng đã xác nhận rằng tế bào gốc trung mô cuống rốn trẻ sơ sinh có lợi ích lâm sàng trong điều trị chống thải ghép cấp tính và các bệnh tự miễn khác như bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện tế bào gốc trung mô cuống rốn trẻ sơ sinh có thể điều trị viêm khớp dạng thấp và nhiều cơ chế đã được khám phá.

    1. Cytokine

Cytokine là điều những chất điều hòa quan trọng của viêm bao hoạt dịch. Một số loại cytokine, như nhân tố hoại tử khối u (TNF)-α và interleukin (IL)-1, hoạt động bằng cách thúc đẩy phản ứng viêm và gây thoái hóa sụn. Những cytokine khác như IL-4, IL-10 and IL-13 lại vận hành chủ yếu như các phân tử kháng viêm. Mặc dù các cytokine kháng viêm có hiện hữu ở các khớp bị viêm, mức độ của chúng ở bệnh viêm khớp dạng thấp đang tiến triển là quá thấp để vô hiệu hóa các tác động xấu của các cytokine gây viêm.

Báo cáo ghi nhận các cytokine gây viêm và chemokine đóng vai trò thiết yếu trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Các tác nhân sinh học nhắm tới các cytokine này đã được thử nghiệm lâm sàng. Ví dụ như: yếu tố hoại tử khối u tái tổ hợp (TNF) và protein đối kháng thụ thể interleukin (IL) -1 của con người.

Tuy nhiên, đã có những tác dụng phụ tương đối nghiêm trọng được quan sát, gồm tái phát và tăng mức nhạy cảm với nhiễm trùng. Rất khó có khả năng là một cytokine duy nhất là nguyên nhân của bệnh viêm khớp dạng thấp. Chúng tôi cho rằng có nhiều khả năng sự kết hợp của các cytokine kháng viêm có thể mang lại phản ứng điều trị tích cực ở người bệnh trong thời gian dài.

UCF

Với các tác dụng lâm sàng tích cực ở bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp dạng thấp sử dụng tế bào gốc trung mô cuống rốn trẻ sơ sinh và sự thật về khả năng điều trị thông qua các chuỗi cytokine mà các tế bào này tạo ra, chúng tôi rất muốn theo đuổi thử nghiệm áp dụng những yếu tố chiết xuất từ cuống rốn (Umbilical Cord Derived factors) được tổng hợp trong sản phẩm vô trùng UCF cytokine của Purecell trên toàn thân (truyền tĩnh mạch).

Sản phẩm này đã được sử dụng để điều trị hoàn toàn an toàn (cả điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân) trên nhiều bệnh nhân, bao gồm một số ít bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp dạng thấp, ghi nhận các tác dụng tốt, lâu dài, không có tác dụng phụ.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *